|
 |
|
Lãnh đạo Bộ Công thương và tỉnh BR-VT tham quan Nhà máy Thép của Công ty TNHH Posco Việt Nam. Ảnh Yến Phương
|
 |
|
Từ khi gia nhập WTO, dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy mạnh vào BR-VT. Trong ảnh: Lễ ký kết bản ghi nhớ hợp tác giữa UBND tỉnh BR-VT và tỉnh Nova Scotia, Canada. Ảnh: Yến Phương
|
>>> Nhiều cơ hội để phát triển công nghiệp
>>> Hệ thống ngân hàng: Thiết lập quan hệ bình đẳng, hợp tác
Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các dòng vốn đầu tư chảy mạnh về Bà Rịa - Vũng Tàu (BR-VT), tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến và dịch vụ. “Giờ đây, điều đáng quan tâm nhất không phải là làm thế nào để thu hút đầu tư nước ngoài mà là làm sao để hiệu quả của dòng vốn đầu tư tác động nhanh và bền vững vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương” – ông Hồ Văn Niên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nói.
3 NĂM THU HÚT 21 TỶ USD
17 năm trước, khi khái niệm đầu tư nước ngoài còn xa lạ với Việt Nam thì BR-VT đã có một liên doanh đầu tiên với nước ngoài, đó là Công ty Dịch vụ xuất nhập khẩu nông lâm sản và Phân bón Bà Rịa (gọi tắt là Baria Serece). Mặc dù thấy rõ tiềm năng và lợi thế của tỉnh, nhưng nhiều năm sau đó, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn rất thận trọng khi quyết định đầu tư vào BR-VT. Năm 2006, trước khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào BR-VT chỉ mới đạt 6 tỷ USD với các dự án chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp và dầu khí. Chỉ đến khi Việt Nam chính thức mở cửa gia nhập WTO (năm 2007), dòng vốn FDI mới bắt đầu chảy mạnh vào BR-VT. Đến thời điểm hiện nay, tổng vốn đăng ký đầu tư FDI đã nhảy vọt lên 27 tỷ USD. Các dự án có quy mô và vốn đầu tư lớn xuất hiện ngày càng nhiều và chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng các dự án công nghiệp khai thác, tăng dần công nghiệp chế biến và dịch vụ.
Với chủ trương thu hút đầu tư có chọn lọc, tỉnh đã đưa ra suất đầu tư cho từng ngành nghề, lĩnh vực và từng khu vực đất đai, đồng thời chỉ ưu tiên cho những dự án sử dụng công nghệ cao, ít gây tác động đến môi trường sinh thái. Nhờ vậy, dòng vốn FDI vào tỉnh trong những năm qua đạt chất lượng cao. Đa số các dự án có vốn đăng ký lớn, tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực có thế mạnh của tỉnh là du lịch và cảng biển. Trong đó, một số dự án có quy mô lớn như: Dự án Sài Gòn Atlantics Hotel của Công ty TNHH Winvest Investmet có tổng vốn đầu tư 4,1 tỷ USD; Dự án khu công viên thế giới diệu kỳ của Công ty TNHH Good Choice, tổng vốn đầu tư 1,3 tỷ USD; Dự án khu du lịch Hồ Tràm Asian Coats, tổng vốn đầu tư 4,2 tỷ USD...
Đến nay, nhiều dự án FDI đã hoàn thiện và đi vào hoạt động, bắt kịp cơ hội đầu tư trong giai đoạn nền kinh tế bước đầu thoát ra khỏi thời kỳ khủng hoảng. Đã có nhiều sản phẩm công nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia xuất khẩu như: tháp gió, quần áo, giày dép, phân bón..., góp phần đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu và đưa tên tuổi của Việt Nam ra thị trường thế giới.
KHƠI DẬY TIỀM NĂNG DỊCH VỤ
Trước năm 1990, hầu hết các dự án đầu tư vào địa bàn tỉnh tập trung vào các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp khai thác là chính như: thép, điện, đạm, cơ khí. Những năm sau này, có thêm nhiều dự án đầu tư vào hai lĩnh vực công nghiệp chế biến và dịch vụ. “Đây là bước chuyển biến tích cực, phù hợp với định hướng chung của tỉnh và xu hướng phát triển bền vững”- ông Hồ Văn Niên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nhận xét. BR-VT là địa phương có thế mạnh về dầu khí, nhưng trước đây hầu hết các dịch vụ phục vụ cho khai thác và vận chuyển dầu khí đều phải thuê các công ty nước ngoài thực hiện. Từ năm 2007 đến nay, với sự tham gia của hàng chục nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cộng với nguồn lực đầu tư khá mạnh của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, hoạt động này đã dần thay thế nhập khẩu và có xu hướng vươn ra nước ngoài.
Một lĩnh vực dịch vụ mới đầy tiềm năng được các nhà đầu tư hết sức quan tâm nữa, đó là dịch vụ cảng biển. Dự án cảng quốc tế SP-PSA - cảng nước sâu đầu tiên của Việt Nam do cảng Sài Gòn và Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam liên doanh với Tập đoàn PSA International đầu tư, đã hoàn thành vào năm 2009 đón nhận nhiều chuyến tàu quốc tế có trọng tải từ 80.000 DWT –100.000 DWT. Sự ra đời của cảng này đánh dấu bước phát triển của ngành hàng hải Việt Nam với nhiều tuyến vận chuyển hàng hóa đến các nước không cần qua trung chuyển. Theo quy hoạch nhóm cảng biển số 5, từ nay đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh có thêm 25 cảng biển quy mô lớn. Một nhà đầu tư cảng biển được cấp phép đầu tư vào đầu năm 2010 kỳ vọng rằng, chẳng bao lâu nữa khu vực cảng Cái Mép – Thị Vải sẽ hình thành một trung tâm dịch vụ cảng mang tầm cỡ quốc tế, phục vụ tích cực cho sự phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.
Dịch vụ du lịch cũng là lĩnh vực thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Ông Michael Minh Nguyễn, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Skybridge Sea, doanh nghiệp vừa mới được cấp phép với dự án du lịch có quy mô lớn cho rằng, BR-VT cần phải có những nhà đầu tư nước ngoài có năng lực tài chính lớn thì mới có thể xây dựng được những dự án quy mô tầm cỡ quốc tế để khai thác hết tiềm năng và lợi thế của ngành du lịch.
KHÔNG ĐỂ CƠ HỘI TRÔI QUA
Từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đón nhận nhiều cơ hội, song cũng đối mặt với nhiều khó khăn thách thức do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhiều dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh bị chậm tiến độ do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính. Trong đó, ở lĩnh vực du lịch có nhiều dự án quy mô hàng tỷ USD như dự án Khu du lịch Hồ Tràm, dự án Sài Gòn Atlantics Hotel, nhưng đến nay vẫn chưa có dự án nào hoàn thành, đưa vào khai thác. Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, đến nay tổng vốn thực hiện của các dự án FDI chỉ mới đạt gần 5 tỷ USD. 3 năm qua, tình hình trong nước cũng có nhiều thay đổi, các chính sách về đất đai, quy hoạch liên tục được điều chỉnh, nên công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cho các dự án gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Đó cũng là một nguyên nhân là chậm tiến độ đầu tư của các dự án. Bà Hoàng Thị Tuyết Hoa, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Công thương đánh giá cao các chính sách thu hút đầu tư của tỉnh BR-VT, tuy nhiên tiến độ thực hiện các dự án còn chậm, đặc biệt là các dự án lớn. Vì vậy, thời gian tới khi cấp phép đầu tư tỉnh chú ý xem xét kỹ năng lực nhà đầu tư và tính khả thi của dự án.
Huyện Tân Thành là khu vực có tốc độ đầu tư nhanh nhất, tập trung nhiều vào hai lĩnh vực công nghiệp và cảng. Hiện nay, Tân Thành đã trở thành một trung tâm công nghiệp lớn với các ngành chủ lực như: thép, điện, phân bón và dịch vụ cảng. Tốc độ đầu tư nhanh khiến công nghiệp phụ trợ và dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu. Điển hình nhất là tình trạng thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật cao trong lĩnh vực cảng. Ông Trần Khánh Xuân, Giám đốc Công ty cổ phần Tân Cảng - Cái Mép cho biết, hiện nay Tân cảng Cái Mép đang chuẩn bị khai thác giai đoạn 2, nhưng không đủ người đáp ứng được yêu cầu công việc. Tại BR-VT rất hiếm lao động có trình độ, năng lực đủ đáp ứng yêu cầu điều hành dịch vụ cảng quốc tế. Lãnh đạo các cảng có tầm cỡ quốc tế trong hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép cho biết, logistics là một chuỗi hoạt động dịch vụ hậu cần cảng bao gồm 9 khâu (thể hiện bằng 9 chữ viết tắt ghép thành từ logistics), nhưng đến nay Việt Nam chỉ mới thực hiện được 3-4 khâu.
Một khó khăn khác làm cho hệ thống cảng trên địa bàn tỉnh chưa phát huy hết hiệu quả đầu tư, đó là hệ thống hạ tầng giao thông chưa hoàn thiện, gây khó khăn cho việc vận chuyển. Điển hình nhất là tuyến đường liên cảng 965 nối quốc lộ 51 với khu vực cảng Thị Vải – Cái Mép khởi công cùng lúc với các KCN dọc con đường này, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2011, nhưng đến nay khối lượng công việc chỉ mới đạt khoảng 50%, trên tuyến đường vẫn còn nhiều nhà dân chưa giải tỏa xong. Đó là một trong những lý do khiến chỉ số ICOR (chỉ số lợi nhuận trên vốn đầu tư) của khu vực cảng chưa đạt như kỳ vọng.
|